X

Soạn văn lớp 9

Soạn bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính ngắn gọn - Soạn văn lớp 9


Soạn bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính ngắn nhất năm 2023

Với Soạn bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính ngắn gọn nhất Ngữ văn lớp 9 năm 2023 mới sẽ giúp các bạn học sinh dễ dàng soạn văn lớp 9. Ngoài ra, bản soạn văn lớp 9 này còn giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm để giúp bạn nắm vững được kiến thức văn bản trước khi đến lớp.

Soạn bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính

A. Soạn bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính (ngắn nhất)

Câu 1 (trang 133 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1):

- Nhan đề thu hút người đọc ở vẻ khác lạ, độc đáo. Từ “bài thơ” đó là chất thơ của hiện thực chiến tranh.

- Nhan đề: nói về những chiếc xe không kính để ca ngợi những người chiến sĩ lái xe vận tải Trường Sơn, kiên cường, dũng cảm, sôi nổi trẻ trung trong những năm chiến tranh chống Mỹ.

Câu 2 (trang 133 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1):

Hình ảnh người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn:

- Tư thế ung dung, hiên ngang, bình tĩnh, tự tin: Ung dung buồng lái ta ngồi.

- Tâm hồn nghệ sĩ mơ mộng, lãng mạn, giàu tình yêu thiên nhiên: sao trời, cánh chim như sa, như ùa vào buồng lái.

- Thái độ bất chấp khó khăn, nguy hiểm: Không có kính ừ thì có bụi...ừ thì ướt áo....

- Tình đồng đội thắm thiết : bắt tay qua cửa kính vỡ, chung bát đũa...gia đình ấy.

- Tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí chiến đấu vì miền Nam : một trái tim căm thù giặc, quyết tâm chiến đấu.

Câu 3 (trang 133 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1):

- Ngôn ngữ bài thơ giản dị mang tính khẩu ngữ tự nhiên. Lời thơ gần với lời văn xuôi, lời đối thoại nhưng vẫn giàu chất thơ. Chất thơ toát lên từ những hình ảnh độc đáo, từ vẻ hiên ngang, sôi nổi, trẻ trung của người lính.

- Giọng điệu ngang tàng có tính chất tinh nghịch góp phần thể hiện hình ảnh người lính ung dung, hóm hỉnh, trẻ trung.

Câu 4 (trang 133 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1):

- Cảm nghĩ về thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mỹ:

   + Cảm phục trước lòng yêu nước, sự gian dạ, dũng cảm, dám đối mặt với khó khăn của họ.

   + Yêu mến các anh bởi sự lạc quan, yêu đời.

   + Tự hào và biết ơn về tuổi trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

- So sánh hình ảnh người lính ở bài “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính:

   + Điểm giống: đều là những người lính có lòng yêu nước, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do, bất chấp khó khăn, gian khổ, sống lạc quan và có tình đồng chí thắm thiết.

   + Điểm khác:

Đồng chí

Bài thơ về tiểu đội xe không kính

- Người lính xuất thân từ nông dân, quê hương nghèo khổ

- Chịu muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Cách mạng chính là sự giải thoát cho số phận đau khổ, tối tăm của họ.

- Người lính có ý thức giác ngộ lý tưởng độc lập, tự do.

- Trẻ trung, hóm hỉnh, tinh nghịch, hiên ngang.

Luyện tập

Câu 1 (trang 133 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1): Học thuộc lòng bài thơ

Câu 2 (trang 133 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1):

Phân tích khổ thơ thứ hai:

Gợi ý:

Khổ hai đã mở ra một không gian rộng lớn với những cung đường chiến lược phía trước có gió thổi có cánh chim chiều và cả ánh sao đêm. Đó là cái nhìn đậm chất lãng mạn chỉ có ở những con người can đảm, vượt lên thử thách khốc liệt của cuộc sống chiến trường. Các điệp từ “nhìn thấy” có giá trị gợi tả như tiểu đội xe không kính đang nối đuôi nhau hành quân ra chiến trường. Xe không có kính, gió thỏa sức ùa vào làm cay mắt người lính. Cách viết “gió vào xoa mắt đắng” là cách viết tài hoa qua nghệ thuật nhân hóa và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác qua từ “đắng”. Con đường phía trước là con đường chạy thẳng vào tim, con đường của lòng yêu nước, chiến đấu vì chính nghĩa, lẽ sống, tình thương vì nền độc lập tự do của dân tộc. Khi xe chạy với tốc độc cao, cả bầu trời sao trong đêm như ùa vào buồng lái và khi xe lên dốc những cánh chim đột ngột như sa vào buồng lái. Nghệ thuật so sánh đã diễn tả thật hay cái tốc độ phi thường của những chiếc xe. Tóm lại khổ hai đã thể hiện những cảm giác ấn tượng mạnh của người lính lái xe trong buồng lái khi không có kính chắn gió.

B. Giới thiệu sơ lược về tác giả

- Tên Phạm Tiến Duật (1941- 2007)

- Quê quán: Phú Thọ

- Quá trình hoạt động văn học:

+ Năm 1964, ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

+ Tuy vậy ông không tiếp tục với nghề mình đã chọn mà quyết định lên đường nhập ngũ, đó cũng là nơi ông sáng tác ra rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng.

+ Năm 1970, ông đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ, ngay sau đó Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam

+ Chiến tranh kết thúc, ông trở về làm tại ban Văn Nghệ, Hội nhà văn Việt Nam và là Phó trưởng Ban Đối ngoại Nhà văn Việt Nam. Đó quả là một thành tích đáng tự hào.

+ Năm 2001, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật

+ 19-11-2007 , ông được chủ tịch nước Nghuyễn Minh Triết trao tặng Huân chương lao động hạng nhì

+ Năm 2012, ông nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn Học Nghệ thuật

- Phong cách nghệ thuật: thơ của Phạm Tiến Duật được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng: giọng điệu rất sôi nổi của tuổi trẻ vừa có cả sự ngang tàn tinh nghịch nhưng lại vô cùng sâu sắc. Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát, tiêu biểu là bài “ Trường sơn Đông Trường Sơn Tây”

- Tác phẩm chính: “Vầng trăng quầng lửa”, “Nhóm lửa”, “Tiếng bom và tiếng chuông chùa”…

C. Tìm hiểu tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính

- Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ sáng tác năm 1969 trên tuyến đường Trường Sơn, trong thời kì kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt. Bài thơ thuộc chùm thơ được tặng giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969, in trong tập “Vầng trăng quầng lửa”

- Thể thơ: Tự do

- Phương thức biểu đạt: Biểu cảm

- Bố cục:

+ Đoạn 1 (Khổ 1+2): Tư thế thế ung dung hiên ngang của người lính lái xe không kính

+ Đoạn 2 (Khổ 3+4): Tinh thần dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ và tinh thần lạc quan, sôi nổi của người lính

+ Đoạn 3 (Khổ 5+6): Tinh thần đồng chí đồng đội thắm thiết của người lính lái xe

+ Đoạn 4 (Khổ 7): Lòng yêu nước và ý chí chiến đấu vì miền Nam

- Giá trị nội dung: Bài thơ khắc họa nét độc đáo của hình tượng những chiếc xe không kính qua đó làm nổi bật hình ảnh những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt, họ ung dung hiên ngang, dũng cảm lạc quan có tinh thần đồng chí đồng đội và một ý chí chiến đấu giải phóng Miền Nam.

- Giá trị nghệ thuật: Bài thơ kết hợp thể thơ bảy chữ và tám chữ một cách tự nhiên. Đặc biệt nhất là có chất liệu hiện thực vô cùng sinh động của chiến trường, những hình ảnh sáng tạo rất đời thường. Ngôn ngữ và giọng điệu thơ giàu tính khẩu ngữ, ngang tàn và khỏe khoắn

Xem thêm các bài Soạn văn lớp 9 ngắn gọn nhất, hay khác: